21/10/13

LỄ KỈ NIỆM VÀ VIỆC TIẾT KIỆM




Hôm qua xem trên trên hình VTV 1 về tổ chức lễ kỉ niệm 50 năm thành lập tỉnh, cảnh tổ chức thật hoành tráng làm tôi chợt nghĩ đến con số tiền tỉ khi tổ chức như vậy, miên man nghĩ đến vừa rồi một loạt các tỉnh, thành phố tổ chức kỉ niệm 15, 20, … năm ngày thành lập quận, huyện, 20, 25,… năm ngày thành lập, tái thành lập tỉnh, … và các con số tiền tỉ khi tổ chức các hoạt động này chạy trong đầu khiến cho tôi nghĩ đến những chuyện tận thu, chuyện tăng giá xăng dầu, điện, nước, … rồi đến chuyện lạm phát của nền kinh tế, chuyện tham nhũng của các vụ án kinh tế trọng điểm được công khai,… 
Quảng cảnh buổi lễ kỷ niệm.
Chợt nghĩ nếu tiết kiệm các chi phí tổ chức kia chắc sẽ làm giảm được áp lực của Bộ Tài chính và Chính Phủ  trong giai đoạn hiện nay, đồng thời giảm áp lực về cuộc sống cho mọi người trong xã hội và chợt nghĩ đến một loạt các quy định như Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ngày 29/11/2005;Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 26/11/2012 của Thủ tướng Chính phvề việc tăng cường thực hành tiết kiệm, chng lãng phí; Nghị định s68/2006/NĐ-CP ngày 18/7/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dn thi hành một s Điu của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Căn cứ Thông tư số 76/2006/TT-BTC ngày 22/8/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định s68/2006/NĐ-CP ngày 18/7/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dn thi hành một s Điu của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí hình như không được áp dụng trong các trường hợp này hoặc có lẽ những trường hợp này toàn là những trường hợp đặc biệt.

11/6/13

Hi hi, vậy là đã có kết quả bỏ phiếu tín nhiệm các lãnh đạo cấp cao và đã được công bố rộng rãi. Kết quả là đây


Xin giới thiệu bài viết của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn về việc lấy phiếu tín nhiệm như sau:  

Thống đốc NHNN có số phiếu tín nhiệm cao thấp nhất

LẤY PHIẾU TÍN NHIỆM: LẠI
MỘT CÁCH LÀM PHI CHÍNH THỐNG

TL: Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn (Úc) vừa có cách lí giải về chuyện lấy phiếu tín nhiệm vừa qua của Quốc hội với cách tính toán rất khoa học. Xin post lên để bạn bè tham khảo, dù “chuyện đã rồi”…
Xin nói cho rõ, “phi chính thống” ở đây là unorthodoxy, là cách làm chẳng theo một qui tắc khoa học nào cả. Tôi đang nói về cái thang điểm lấy ý kiến tín nhiệm của Quốc hội Việt Nam. Theo thang điểm này, mỗi đại biểu có thể đánh giá thành viên Chính phủ bằng cách chọn một trong 3 điểm như sau:
•Tín nhiệm cao
•Tín nhiệm
•Tín nhiệm thấp
Những ai am hiểu khoa học xã hội nhận ra ngay rằng đây là thang điểm Likert. Xin nhắc lại (vì có người hiểu lầm rằng Likert là lấy từ chữ Like!) rằng người phát kiến ra thang điểm này tên là Rensis Likert, một nhà tâm lí xã hội học. Likert đề xuất thang điểm này vào năm 1932 và sau đó hoàn thiện vào năm 1934. Thang điểm này dùng để đánh giá thái độ, hành vi, sở thích, v.v. của con người. Đây là những biến khó định lượng, nên phát kiến của Likert rất quan trọng, dù nó rất ư đơn giản.
Nhưng thang điểm Likert là thang điểm hai chiều – bipolar scale. Nói cách khác, thang điểm này phản ảnh tất cả những thái độ đi từ tiêu cực đến tích cực. Chẳng hạn như trong trường hợp lấy ý kiến tín nhiệm, thì thang điểm Likert có thể là 4 điểm như:
•Rất tín nhiệm (very trustworthy)
•Tín nhiệm (trustworthy)
•Không tín nhiệm (untrustworthy)
•Rất không tín nhiệm (very untrustworthy)
Còn đằng này, Quốc hội chỉ dùng thang điểm chẳng giống ai, vì chỉ có 1 chiều! Ngay cả cách soạn câu trả lời (“Tín nhiệm cao”, “Tín nhiệm”, “Tín nhiệm thấp”) đã là bất bình thường. Cái điểm “Tín nhiệm” có nghĩa là gì? Tại sao không cho đại biểu bày tỏ sự “Không tín nhiệm”? Đúng là những kiểu lấy ý kiến như thế này chẳng có ý nghĩa gì và rất khó diễn giải kết quả. Chẳng có ý nghĩa là vì nó không phản ảnh được tâm tình và thái độ của đại biểu. Kết quả khó diễn giải là vì thang điểm chỉ có 1 chiều.Vậy thì kết quả lấy phiếu tín nhiệm nên được hiểu như thế nào? Tôi nghĩ vì vấn đề phương pháp, nên chúng ta chỉ có thể mô tả mà thôi. Qua mô tả, chúng ta có thể so sánh giữa các thành viên trong Chính phủ. Để so sánh, chúng ta cần phải tổng hợp 3 giá trị “Tín nhiệm cao”, “Tín nhiệm”, và “Tín nhiệm thấp” thành một điểm tổng hợp (điểm quân bình). Nhưng vấn đề là làm sao tính điểm trung bình cho từng cá nhân?
Báo chí có vẻ lấy số phần trăm “Tín nhiệm cao” để so sánh, nhưng cách làm này không công bằng. Để minh hoạ, chúng ta có thể xem hai trường hợp sau đây: Ông Nguyễn Tấn Dũng, có tỉ lệ “Tín nhiệm cao” là 43%, và ông Nguyễn Văn Hiện cũng có tỉ lệ “Tín nhiệm cao” 43%. Chúng ta có thể xem hai vị này cùng thứ hạng? Câu trả lời là không. Lí do là vì ông Dũng có 25% phiếu “Tín nhiệm”, thấp hơn ông Hiện với 52% phiếu “Tín nhiệm”. Do đó, để đánh giá và xếp hạng công bằng, cần phải định lượng thang điểm. 

Tôi nghĩ có cách định lượng thực tế hơn. Ở đây, mấy người trong Quốc hội chỉ cho các điểm “tích cực” (tín nhiệm), nhưng chúng ta có thể hiểu rằng những người đánh giá điểm “Tín nhiệm thấp” có nghĩa là “Không tín nhiệm” và “Rất không tín nhiệm”. Những người cho điểm “Tín nhiệm” có thể phản ảnh cả đánh giá “Không tín nhiệm”. Giả định đằng sau của thang điểm Likert là có một biến số liên tục. Trong trường hợp chúng ta đang bàn, từ “Rất không tín nhiệm” đến “Rất tín nhiệm” là một dãy số liên tục từ -1 đến +1 (trung bình là 0).
•Rất tín nhiệm cao: trọng số từ 0.5 đến 1 (trung bình là 0.75). 
•Tín nhiệm: trọng số từ 0 đến 0.5 (trung bình 0.25)
•Tín nhiệm thấp: trọng số 0 đến -1 (trung bình -0.50)
Do đó, trong trường hợp ông Nguyễn Tấn Dũng, với 210 phiếu “Tín nhiệm cao”, 122 phiếu “Tín nhiệm”, và 160 “Tín nhiệm thấp”, chúng ta có thể tính điểm quân bình là:
(210*0.75 + 122*0.25 – 160*0.50) / 492 = 0.22
và ông Hiện:
(210*0.75 + 253*0.25 – 28*0.50) / 491 = 0.42
Nói cách khác, điểm của ông Dũng trên trung bình chỉ 0.22, và “điểm thật” của ông Hiện cao gần gấp 2 lần điểm ông Dũng. Tính tương tự, và xếp hạng, tôi có bảng số liệu sau đây. Theo bảng này thì bà Kim Ngân có điểm cao nhất (0.61), kế đến là bà Trương Thị Mai, ông Phùng Quang Thanh, ông Uông Chu Lưu, Nguyễn Sinh Hùng, và Trương Tấn Sang. Năm người có điểm thấp nhất là ông Nguyễn Văn Bình (0.02), ông Phạm Vũ Luận (0.07), bà Nguyễn Thị Kim Tiến (0.13), ông Hoàng Tuấn Anh (0.16), và bà Phạm Hải Chuyền (0.19).
Nhưng tất cả chỉ là vui thôi, chứ số liệu thu thập theo kiểu phi chính thống, bất chấp qui tắc khoa học, và 1 chiều thì rất khó diễn giải. Dù sao đi nữa, những số liệu này cũng nói lên một điều là các thành viên trong Chính phủ có độ tín nhiệm thấp. Người cao nhất cũng chỉ 0.61, tức chỉ hơn trung bình 0.11 điểm!
0.61 Bà Nguyễn Thị Kim Ngân
0.58 Bà Trương Thị Mai
0.57 Ông Phùng Quang Thanh
0.56 Ông Uông Chu Lưu
0.55 Ông Nguyễn Sinh Hùng
0.54 Ông Trương Tấn Sang
0.54 Bà Tòng Thị Phóng
0.53 Ông Phùng Quốc Hiển
0.52 Ông Nguyễn Hạnh Phúc
0.52 Ông Phan Trung Lý
0.52 Bà Nguyễn Thị Nương
0.51 Ông Nguyễn Kim Khoa
0.50 Ông Nguyễn Văn Giàu
0.50 Bà Nguyễn Thị Doan
0.50 Ông Trần Đại Quang
0.49 Ông Trần Văn Hằng
0.47 Ông Ksor Phước
0.47 Ông Đào Trọng Thi
0.46 Ông Phạm Bình Minh
0.45 Ông Huỳnh Ngọc Sơn
0.45 Ông Phan Xuân Dũng
0.45 Ông Nguyễn Xuân Phúc
0.43 Ông Vũ Đức Đam
0.42 Ông Nguyễn Văn Hiện
0.42 Ông Bùi Quang Vinh
0.42 Ông Nguyễn Hòa Bình
0.40 Ông Trương Hòa Bình
0.37 Ông Nguyễn Bắc Son
0.37 Ông Hoàng Trung Hải
0.37 Ông Hà Hùng Cường
0.35 Ông Nguyễn Thiện Nhân
0.35 Ông Cao Đức Phát
0.33 Ông Vũ Văn Ninh
0.32 Ông Nguyễn Minh Quang
0.31 Ông Giàng Seo Phử
0.31 Ông Nguyễn Quân
0.29 Ông Đinh La Thăng
0.28 Ông Huỳnh Phong Tranh
0.24 Ông Nguyễn Thái Bình
0.23 Ông Vũ Huy Hoàng
0.23 Ông Trịnh Đình Dũng
0.22 Ông Nguyễn Tấn Dũng
0.19 Bà Phạm Thị Hải Chuyền
0.16 Ông Hoàng Tuấn Anh
0.13 Bà Nguyễn Thị Kim Tiến
0.07 Ông Phạm Vũ Luận
0.02 Ông Nguyễn Văn Bình
--------- GS Nguyễn Văn Tuấn

22/4/13

MỘT VÀI Ý TƯỞNG TRONG VIỆC GIẢM TẢI SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ


Hôm nay đầu giờ sáng, Sếp vào nói chuyện đầu giờ về việc hội thảo với chuyên gia nước ngoài về cơ sở dữ liệu, cách thức Vương quốc Anh triển khai thực tế về các loại phí trong các hoạt động cơ sở dữ liệu làm mình cũng chợt suy nghĩ về các chính sách ở Việt Nam hiện nay, nếu cũng thực hiện như vậy thì hoạt động của các ngành sẽ là hoạt động độc lập và tự chủ, không sử dụng hoặc chỉ sử dụng một phần nhỏ ngân sách nhà nước (từ thuế của nhân dân). Cụ thể như sau:
Sẽ thu phí hoạt động và phí sử dụng đối với tất cả các ngành còn sử dụng ngân sách nhà nước theo từng năm hoặc từng quý:
A. Nguyên tắc và nhân sự
1. Ngành Tài nguyên Môi trường - Chủ quản là Bộ Tài nguyên và Môi trường:
1.1 Các hoạt động: Quản lý đất đai, Đo đạc Bản đồ, Địa chất Khoán sản, Môi trường, Biển và Hải đảo, Nước và Biến đổi khí hậu, Các hoạt động khác liên quan đến ngành tài nguyên và môi trường
- Thu phí hoạt động với tất cả các doanh nghiệp có đăng kí kinh doanh ngành tài nguyên và môi trường theo năm một khoản kinh phí A.
- Khi doanh nghiệp thực hiện các công việc cụ thể của các dự án, các hợp đồng cụ thể có sử dụng tài liệu, số liệu thì sẽ phải nộp một khoản kinh phí B cho các tài liệu, số liệu đó.
- Các hoạt động của doanh nghiệp vẫn đóng các khoản kinh phí C với các Chi cục thuế, Cục thuế theo quy định như môn bài, kinh doanh, lãi,…
+ Khoản kinh phí A, B sẽ đóng vào ngân sách của của ngành tài nguyên và môi trường, kinh phí này sẽ được sử dụng để chi trả lương cho bộ máy ngành tài nguyên và môi trường.
+ Khoản kinh phí C sẽ đóng vào ngân sách của Chính phủ (kho bạc nhà nước) thông qua ngân hàng, chi cục (cục) thuế hoặc trực tiếp ở kho bạc
1.2 Cơ cấu nhân sự: Nhân sự phục vụ quản lý nhà nước của ngành tài nguyên sẽ được quản lý và trả lương trực tiếp từ Bộ đến sở và cấp thấp hơn (không phải do địa phương quản lý và trả lương). Riêng các nhân sự cấp xã thì có thể do địa phương quản lý và trả lương
2. Ngành Xây dựng – Chủ quản là Bộ Xây dựng, ngành Giao thông – Chủ quản là Bộ Giao thông:
2.1 Các hoạt động: Xây dựng cơ bản, Quy hoạch đô thị, Cầu Đường, Vận tải, ….
- Thu phí hoạt động với tất cả các doanh nghiệp có đăng kí kinh doanh ngành Xây dựng như Xây dựng cơ bản, Quy hoạch đô thị, Cầu Đường, Vận tải, …. theo năm một khoản kinh phí A.
- Khi doanh nghiệp thực hiện các công việc cụ thể của các dự án, các hợp đồng cụ thể có sử dụng tài liệu, số liệu thì sẽ phải nộp một khoản kinh phí B cho các tài liệu, số liệu đó.
- Các hoạt động của doanh nghiệp vẫn đóng các khoản kinh phí C với các Chi cục thuế, Cục thuế theo quy định như môn bài, kinh doanh, lãi,…
+ Khoản kinh phí A, B sẽ đóng vào ngân sách của của ngành tài nguyên và môi trường, kinh phí này sẽ được sử dụng để chi trả lương cho bộ máy xây dựng (Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải).
+ Khoản kinh phí C sẽ đóng vào ngân sách của Chính phủ (kho bạc nhà nước) thông qua ngân hàng, chi cục (cục) thuế hoặc trực tiếp ở kho bạc.
2.2 Cơ cấu nhân sự: Nhân sự phục vụ quản lý nhà nước của ngành Xây dựng cơ bản, Quy hoạch đô thị, Cầu Đường, ngành Giao thông vận tải…. sẽ được quản lý và trả lương trực tiếp từ Bộ đến sở và cấp thấp hơn (không phải do địa phương quản lý và trả lương).
3. Ngành Nông nghiệp – Chủ quản là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
3.1 Các hoạt động: Thủy lợi, Động vật, Thực vật, Ngư nghiệp, Lâm nghiệp, …
- Thu phí hoạt động với tất cả các doanh nghiệp có đăng kí kinh doanh ngành nông nghiệp như Thủy lợi, Động vật, Thực vật, Ngư nghiệp, Lâm nghiệp, … theo năm một khoản kinh phí A.
- Khi doanh nghiệp thực hiện các công việc cụ thể của các dự án, các hợp đồng cụ thể có sử dụng tài liệu, số liệu thì sẽ phải nộp một khoản kinh phí B cho các tài liệu, số liệu đó.
- Các hoạt động của doanh nghiệp vẫn đóng các khoản kinh phí C với các Chi cục thuế, Cục thuế theo quy định như môn bài, kinh doanh, lãi,…
+ Khoản kinh phí A, B sẽ đóng vào ngân sách của ngành nông nghiệp, kinh phí này sẽ được sử dụng để chi trả lương cho bộ máy ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn).
+ Khoản kinh phí C sẽ đóng vào ngân sách của Chính phủ (kho bạc nhà nước) thông qua ngân hàng, chi cục (cục) thuế hoặc trực tiếp ở kho bạc.
3.2 Cơ cấu nhân sự: Nhân sự phục vụ quản lý nhà nước của ngành Thủy lợi, Động vật, Thực vật, Ngư nghiệp, Lâm nghiệp, … sẽ được quản lý và trả lương trực tiếp từ Bộ đến sở và cấp thấp hơn (không phải do địa phương quản lý và trả lương). Riêng các nhân sự cấp xã thì có thể do địa phương quản lý và trả lương
4. Ngành Giáo dục – Chủ quản là Bộ giáo dục và Đào tạo
4.1. Hoạt động: Sách và thiết bị giáo dục, hoạt động khác liên quan đến giáo dục
- Thu phí hoạt động với tất cả các doanh nghiệp có đăng kí kinh doanh ngành có liên quan đến giáo dục như Sách và thiết bị giáo dục, hoạt động khác liên quan đến giáo dục theo năm một khoản kinh phí A.
- Khi doanh nghiệp thực hiện các công việc cụ thể của các dự án, các hợp đồng cụ thể có sử dụng tài liệu, số liệu thì sẽ phải nộp một khoản kinh phí B cho các tài liệu, số liệu đó.
- Các hoạt động của doanh nghiệp vẫn đóng các khoản kinh phí C với các Chi cục thuế, Cục thuế theo quy định như môn bài, kinh doanh, lãi,…
+ Khoản kinh phí A, B sẽ đóng vào ngân sách của ngành giáo dục, kinh phí này sẽ được sử dụng để chi trả lương cho bộ máy ngành giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo).
+ Khoản kinh phí C sẽ đóng vào ngân sách của Chính phủ (kho bạc nhà nước) thông qua ngân hàng, chi cục (cục) thuế hoặc trực tiếp ở kho bạc.
4.2 Cơ cấu nhân sự: Nhân sự phục vụ quản lý nhà nước của ngành giáo dục sẽ được quản lý và trả lương trực tiếp từ Bộ đến sở và cấp thấp hơn (không phải do địa phương quản lý và trả lương). Riêng các nhân sự cấp xã thì có thể do địa phương quản lý và trả lương
5. Ngành Văn hóa – Chủ quản là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch
5.1. Hoạt động: Văn hóa văn nghệ, thể thao, du lịch, sự kiện, …
- Thu phí hoạt động với tất cả các doanh nghiệp có đăng kí kinh doanh ngành có liên quan đến Văn hóa văn nghệ, thể thao, du lịch, sự kiện, … theo năm một khoản kinh phí A.
- Khi doanh nghiệp thực hiện các công việc cụ thể của các dự án, các hợp đồng cụ thể có sử dụng tài liệu, số liệu thì sẽ phải nộp một khoản kinh phí B cho các tài liệu, số liệu đó.
- Các hoạt động của doanh nghiệp vẫn đóng các khoản kinh phí C với các Chi cục thuế, Cục thuế theo quy định như môn bài, kinh doanh, lãi,…
+ Khoản kinh phí A, B sẽ đóng vào ngân sách của ngành văn hóa, thể thao và du lịch, kinh phí này sẽ được sử dụng để chi trả lương cho bộ máy ngành văn hóa, thể thao và du lịch (Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch).
+ Khoản kinh phí C sẽ đóng vào ngân sách của Chính phủ (kho bạc nhà nước) thông qua ngân hàng, chi cục (cục) thuế hoặc trực tiếp ở kho bạc.
5.2 Cơ cấu nhân sự: Nhân sự phục vụ quản lý nhà nước của ngành văn hóa, thể thao và du lịch sẽ được quản lý và trả lương trực tiếp từ Bộ đến sở và cấp thấp hơn (không phải do địa phương quản lý và trả lương). Riêng các nhân sự cấp xã thì có thể do địa phương quản lý và trả lương
6. Ngành Quốc phòng – Chủ quản là Bộ Quốc phòng, Công an – Chủ quản là Bộ Công an
6.1. Hoạt động: Các hoạt động của các doanh nghiệp trong lực lượng vũ trang như viễn thông, xây dựng,…
- Thu phí hoạt động với tất cả các doanh nghiệp của các doanh nghiệp của lực lượng vũ trang theo năm một khoản kinh phí A.
- Khi doanh nghiệp thực hiện các công việc cụ thể của các dự án, các hợp đồng cụ thể có sử dụng tài liệu, số liệu thì sẽ phải nộp một khoản kinh phí B cho các tài liệu, số liệu đó.
- Các hoạt động của doanh nghiệp vẫn đóng các khoản kinh phí C với các Chi cục thuế, Cục thuế theo quy định như môn bài, kinh doanh, lãi,…
+ Khoản kinh phí A, B sẽ đóng vào ngân sách của ngành văn hóa, thể thao và du lịch, kinh phí này sẽ được sử dụng để chi trả lương cho bộ máy lực lượng vũ trang (Bộ Quốc phòng, Bộ Công an).
+ Khoản kinh phí C sẽ đóng vào ngân sách của Chính phủ (kho bạc nhà nước) thông qua ngân hàng, chi cục (cục) thuế hoặc trực tiếp ở kho bạc.
6.2. Cơ cấu nhân sự: giữ nguyên như hiện tại.
7. Ngành Y tế - Chủ quản là Bộ Y tế
7.1. Hoạt động: Các hoạt động liên quan đến y tế, chăm sóc sức khỏe, …
- Thu phí hoạt động với tất cả các doanh nghiệp có đăng kí kinh doanh ngành có liên quan đến y tế, chăm sóc sức khỏe, … theo năm một khoản kinh phí A.
- Khi doanh nghiệp thực hiện các công việc cụ thể của các dự án, các hợp đồng cụ thể có sử dụng tài liệu, số liệu thì sẽ phải nộp một khoản kinh phí B cho các tài liệu, số liệu đó.
- Các hoạt động của doanh nghiệp vẫn đóng các khoản kinh phí C với các Chi cục thuế, Cục thuế theo quy định như môn bài, kinh doanh, lãi,…
+ Khoản kinh phí A, B sẽ đóng vào ngân sách của ngành y tế, kinh phí này sẽ được sử dụng để chi trả lương cho bộ máy ngành y tế (Bộ Y tế).
+ Khoản kinh phí C sẽ đóng vào ngân sách của Chính phủ (kho bạc nhà nước) thông qua ngân hàng, chi cục (cục) thuế hoặc trực tiếp ở kho bạc.
7.2 Cơ cấu nhân sự: Nhân sự phục vụ quản lý nhà nước của ngành y tế sẽ được quản lý và trả lương trực tiếp từ Bộ đến sở (không phải do địa phương quản lý và trả lương). Riêng các nhân sự cấp huyện, cấp xã thì có thể do địa phương quản lý và trả lương.
8. Các ngành khác: Công thương – Chủ quản là Bộ Công thương, Tài chính – Chủ quản Bộ Tài chính, Kế hoạch và đầu tư – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, …
Các ngành này vẫn giữ nguyên theo chính sách và hoạt động hiện tại.
B. Lợi ích của việc thu phí ngành và trả lương theo ngành:
- Việc thu phí theo ngành và trả lương theo ngành sẽ giảm bớt được việc sử dụng ngân sách nhà nước (chủ yếu từ thuế) đóng góp từ đó ngân sách nhà nước sẽ được sử dụng để tập trung nguồn lực phục vụ cho việc phát triển kinh tế các vùng kinh tế khó khăn, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, … đồng thời tránh việc chồng chéo nhiệm vụ, khi xảu ra sự vụ không đùn đẩy trách nhiệm
- Hoạt động của các ngành sẽ độc lập theo chuyên môn, không quá phụ thuộc vào địa phương. Các hoạt động của địa phương chủ yếu sẽ là quản lý nhà nước tổng thể trên các mặt kinh tế, văn hóa xã hội sẽ tập trung hơn và hiệu quả hơn.
- Tránh các hoạt động kiểu Bộ chỉ đạo, sở không thực hiện với lý do UBND đã quy định hoặc lần nữa không thực hiện như hiện nay.
- Trên cơ sở các khoản thu, các bộ, ngành sẽ tính toán lượng nhân lực cần thực hiện ở các công việc cụ thể, tránh việc thừa nhân lực hoặc nhân lực không làm được việc.
C. Căn cứ để tính các khoản phí A, B (C vẫn thu theo quy định hiện hành).
          - Theo từng ngành cụ thể với các đặc điểm ngành để đưa ra các mức phí này.
          - Phí A sẽ thu theo ngành đăng kí và quy mô doanh nghiệp
          - Phí B sẽ theo các quy định hiện hành của Chính phủ (các thông tư, nghị định), nếu chưa có quy định nhưng thấy cần phải có để làm căn cứ thu phí B thì cần lên phương án xây dựng trình Bộ Tài chính, Chính phủ và Quốc hội để áp dụng vào thực tiễn.



19/4/13

CÂU CHUYỆN THỜI GIAN


Nếu bạn cho rằng, sự thất bại trong cuộc sống cá nhân, gia đình là do bạn không đủ thời gian, có thể bạn đã sai. Và nếu bạn nghĩ, thời gian còn rất dài, nên dồn hết cho công việc trước, bạn có thể không đúng.


Trong một lần trò chuyện gần đây với P.A, Phó Tổng giám đốc một công ty chuyên sản xuất và kinh doanh các sản phẩm bông băng y tế có tiếng tại TPHCM về cuộc sống cá nhân, chị đã bộc bạch chuyện gia đình: “Tôi từng lập gia đình. Nhưng cuộc sống hôn nhân không thành công, bởi tôi là người nghiện công việc. Tôi dành quá nhiều thời gian cho nó. Ông xã tôi, gia đình chồng tôi đã không chấp nhận điều đó. Giá như tôi có nhiều thời gian hơn!”.

Đó không chỉ là cách lý giải của riêng P.A về nguyên nhân thất bại, không hạnh phúc trong cuộc sống cá nhân của chị. Nhiều doanh nhân tôi từng gặp cũng có suy nghĩ tương tự như P.A. Vậy thời gian có phải là “tội đồ”?

Thời gian không có lỗi

Fernando Bartolomé, Giáo sư giảng dạy Quản trị kinh doanh của Đại học Harvard, phân tích, “thiếu thời gian” luôn là lời nói đầu môi của nhiều người để biện minh cho việc không làm được hoặc bị thất bại nhiều trong cuộc sống cá nhân, “Nhưng hãy suy đi tính lại thật kỹ sẽ thấy, thiếu thời gian không hẳn là nguyên nhân chính. Có chăng là do chúng ta không biết sắp xếp và tận dụng nó hợp lý cho cuộc sống của chúng ta!”, Bartolomé nói.

Hãy thử thực hiện một phép tính thời gian đơn giản. Nếu nhân 24 giờ cho 7 ngày, lượng thời gian của một tuần là 168 giờ. Trong đó, nếu theo lời khuyên của bác sĩ là ngủ trung bình 7 giờ/ngày thì trong 1 tuần, chúng ta ngủ 49 giờ. Như vậy, thời gian còn lại của con người là 119 giờ (= 168 giờ - 49 giờ). Và chúng ta đặt 119 giờ này tương ứng với tỉ lệ 100%.

Trong một xã hội năng động hiện nay, với khoảng 119 giờ thứ, chúng ta làm gì?

Nhịp cầu đầu tư đã khảo sát lịch làm việc của nhiều viên chức văn phòng trong 1 tuần thấy rằng, có 3 phần thời gian cơ bản. Thời gian làm việc ở văn phòng tính từ thứ Hai đến thứ Sáu trung bình là 45 giờ (= 9 giờ/ngày x 5 ngày). Thời gian di chuyển, đi lại tính từ thứ Hai đến thứ Sáu là 10 giờ (=2 giờ/ngày x 5 ngày). Thời gian làm việc trong 2 ngày cuối tuần (thứ Bảy và Chủ nhật) là 4 giờ. Khi đó, tổng của 3 phần thời gian là 59 giờ (=45 giờ + 10 giờ + 4 giờ).

Như vậy, trong 119 giờ, chúng ta mất 59 giờ (tương đương với tỉ lệ khoảng 50%) cho việc đi lại và công việc. Trong một bài phân tích về sự cân bằng công việc và cuộc sống mang tên “The Work Alibi” của Harvard Business Review nhận định, cho dù một người làm việc cật lực 10 giờ/ngày, tổng thời lượng cho công việc cũng chỉ là 64 giờ, tương đương với tỉ lệ 53,78%/tổng thời gian thức.

Trên thực tế, khi Nhịp cầu Đầu tư thực hiện phỏng vấn một số doanh nhân Việt Nam về việc sử dụng thời gian cho công việc thì thấy rằng, tỉ lệ thời gian công việc trên thời gian thức cũng chỉ dao động trong khoảng 60-70% và không vượt qua ngưỡng này. Như vậy, chúng ra còn đến 30-40% thời gian thức để có thể chăm lo cho cuộc sống cá nhân tốt hơn.

Thời gian rõ ràng không có lỗi. Vậy đâu là nguyên nhân của một cuộc sống cá nhân nghèo nàn, thất bại?

Qua nhiều cuộc trò chuyện với các nhân vật là nhà điều hành, viên chức, công nhân trong độ tuổi 25-40, Nhịp cầu Đầu tư đã nhận ra 4 nguyên nhân chính dẫn đến cuộc sống cá nhân bị “khiếm khuyết”. Đó là:
1. Không lường trước những khó khăn có thể xảy đến trong cuộc sống cá nhân để rồi bị thất vọng.
2. Lo lắng, sợ hãi hay giận dữ thái quá để rồi không có khả năng giải quyết ổn thỏa những xung đột trong hôn nhân.
3. Sự thất bại trong quan hệ chăn gối
4. Sự chậm trễ về việc lập kế hoạch cho cuộc sống cá nhân trong tương lai, hay còn gọi là “quan điểm về ngày mai”.

Trong 4 nguyên nhân này, nguyên nhân “quan điểm về ngày mai”, một nguyên nhân có tính thời gian, đang là cái bẫy chi phối cuộc sống cá nhân của chúng ta nhiều nhất.

Hữu hạn trong quan điểm về “ngày mai”!

Giáo sư Bartolomé đã có dịp trò chuyện với hàng trăm người thành đạt thuộc mọi lứa tuổi, ngành nghề ở nhiều quốc gia. Và ông đã tìm ra được kịch bản mang tên “Ngày mai” trong cuộc sống cá nhân của chúng ta. Nhân vật chính trong kịch bản đó có thể là bạn, hoặc là tôi. Kịch bản ấy như thế nào?

Hiện tại, bạn 25 tuổi và đã có gia đình. Là người trẻ tuổi và bắt đầu sự nghiệp, bạn đang tự khám phá, trau dồi kĩ năng cho chính mình, cố gắng hết sức để có được sự thăng tiến. Bạn rất bận rộn với công việc và nghĩ trong đầu, mình sẽ chăm sóc cuộc sống cá nhân, gia đình vào ngày mai.

Và ngày mai, bạn 30 tuổi. Bạn có thể có một hoặc nhiều con. Lúc này, bạn mang hai trọng trách: công việc và con cái. Nhưng công việc đang tiến triển, buộc bạn phải phấn đấu nhiều hơn, nếu không sẽ trôi mất thành quả đạt được sau bao nhiêu năm. Và một lần nữa, khi nghĩ về việc chăm lo cuộc sống cá nhân, gia đình và con cái, bạn lại nói: “Chờ ngày mai vậy!”.

Và ngày mai, bạn 35 tuổi. Tất cả nỗ lực của bạn đều được đền đáp xứng đáng. Bạn trở thành nhà quản lý, nắm giữ một phần vận mệnh của công ty. Bạn quan hệ rất tốt với lãnh đạo, thu nhập khá cao. Nhưng ở tuổi này, bạn bắt đầu cảm nhận sự trống rỗng hoặc sợ hãi. Đó là do bạn ở vị trí cao và bị áp lực phải bảo vệ nó trước những quản lý trẻ có tiềm năng. Rồi bạn càng phải nỗ lực hơn nữa để vượt qua sự sợ hãi, lo lắng. Chắc chắn, bạn sẽ khó có thời gian cho cuộc sống cá nhân. Bạn nhìn nó rồi lại nhẩm chữ “ngày mai”.

Rồi ngày mai, bạn 40 tuổi. Ở tuổi này, cả phụ nữ và đàn ông đều muốn tập trung chăm lo cuộc sống cá nhân. Bây giờ mới là ngày mai thực sự của bạn. Nhưng có lẽ đã quá trễ.

Một kịch bản cuộc sống như thế diễn ra với khá nhiều người trong chúng ta. Khi chúng ta hi sinh cuộc sống cá nhân thì chúng ta cũng đồng thời tự nhủ mình sẽ lấy lại được nó trong tương lai. Tuy nhiên, điều đó rất khó,vì thời gian đã lấy đi sức lực và mọi thứ của con người.

Kịch bản của Bartolomé như một sự cảnh tỉnh, giống như câu chuyện “ngày hôm nay” tôi đã từng đọc trong tác phẩm “Quẳng gánh lo đi và vui sống” của Dale Carnegie. Nếu Carnegie khuyên chúng ta chuẩn bị công việc thật tốt cho ngày hôm nay, sống trọn vẹn trong ngày hôm nay và viết từ “ngày hôm nay” lên một phiến đá rồi nhìn nó mỗi ngày thì kịch bản của Bartolomé cũng hàm ý, hãy khắc từ “ngày hôm nay” trong tâm trí để sắp xếp trọn vẹn cuộc sống cá nhân, gia đình!.

Theo Trọng Thủy
Tạp chí Nhịp cầu Đầu tư